Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 23


Hôm nayHôm nay : 27

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 13922

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5985749

Kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh làm bài tập: “MỞ RỘNG VỐN TỪ” trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2.

Thứ hai - 07/10/2013 14:46
Khi giảng dạy phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 tôi thấy các em thường mắc một số lỗi sau: 1- Diễn đạt lủng củng. 2- Kỹ năng dùng từ để trả lời câu hỏi thiếu chính xác. 3- Tìm từ không đúng với yêu cầu của bài tập. Từ những phát hiện đó tôi có một số biện pháp cụ thể để dạy cho học sinh nắm được cách làm loại bài tập “Mở rộng vốn từ”.

 

 Trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2, loại bài tập “Mở rộng vốn từ” có vị trí rất quan trọng. Loại bài này có nhiều kiểu khác nhau nhưng có chung một mục đích là giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ.

           Có ba kiểu bài tập:

1) Kiểu bài tập: “ Mở rộng vốn từ qua tranh vẽ”.

          Ở những bài tập này tranh vẽ là phương tiện, có tác dụng làm chỗ dựa cho việc tìm từ- Mở rộng vốn từ cho học sinh. Kiểu bài tập này có các dạng bài tập sau:

1a) Dạng bài tập “ Ghép từ cho sẵn với hình vẽ tương ứng:

          Ví dụ: Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật, mỗi việc được vẽ dưới đây:( từ cho sẵn: học sinh, nhà, xe đạp, múa, trường, chạy, hoa hồng, cô giáo)

                                                          ( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 8)

          Ở dạng bài tập này vừa có tác dụng giúp học sinh nhận biết “nghĩa biểu vật” của từ ( từ nào gọi tên, biểu thị sự vật, hiện tượng nào), vừa có tác dụng giúp học sinh mở rộng vốn từ. Đây là hình thức luyện tập vế từ ở mức độ đơn giản nhất. Khi dạy dạng bài tập này, tôi sử dụng tranh- tranh phóng to; tôi hướng dẫn học sinh lần lượt đối chiếu từng từ cho sẵn với hình ảnh tương ứng: mỗi tên gắn với một vật hoặc một việc được vẽ trong tranh. Sau đó tôi yêu cầu học sinh đọc 8 tên gọi(đặt trong ngoặc đơn) . Tiếp theo yêu cầu em đó cần xem tên gọi nào là của người, vật hoặc việc nào?

          Sau đó, tôi đọc tên gọi của từng người, vật, việc đồng thời học sinh dùng que chỉ  để chỉ vào tranh vẽ ( phóng to trên bảng) người, vật, việc ấy và đọc số thứ tự của tranh đó.

          Tranh 1: trường             Tranh 2: học sinh                 Tranh 3: chạy

          Tranh 4: cô giáo            Tranh 5: hoa hồng                        Tranh 6: nhà

          Tranh 7: xe đạp             Tranh 8: múa

1b)Dạng bài tập “ Dựa vào tranh tìm từ tương ứng”

          Ví dụ: Các tranh dưới đây vẽ một số hoạt động của người. hãy tìm từ chỉ mói hoạt động:

                                                (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 59)

          Với dạng bài tập này, từ câu tìm không cho sẵn.Vì vậy tác dụng giúp học sinh phát triển, mở rộng vốn từ của dạng bài tập này cao hơn so với dạng bài tập(1a) ở trên.

           Tôi hướng dẫn học sinh quan sát, suy nghĩ, tìm từ tương ứng rồi trả lời. Đôi khi học sinh vừa phải quan sát tranh vừa kết hợp tưởng tượng. Bởi vì tranh vẽ có khi chỉ mang tính tương đối, chỉ là sự gợi ý, không phải là sự sao chụp hiện thực.

          Sau khi học sinh trả lời xong, lớp nhận xét rồi chữa bài:

          Từ chỉ mỗi hoạt động tương ứng với mỗi tranh là:

          Tranh 1: đọc, xem         

          Tranh 2: viết, làm          

          Tranh 3: nghe, giảng giải, chỉ bảo.

          Tranh 4: nói, trò chuyện, kể chuyện, tâm sự.

1c) Dạng bài tập “ Gọi tên các sự vật được vẽ trong tranh(Tranh đố)

          Ví dụ: Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong tranh sau. Cho biết mỗi đồ vật  được dùng để làm gì?

                                                (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 52)

          Yêu cầu bài tập này cũng dựa vào hình ảnh của sự vật(được vẽ trong tranh) để tìm từ ngữ tương ứng - đó là gọi tên các sự vật được vẽ trong tranh. Các sự vật được vẽ trong tranh không thể hiện rõ ràng mà ẩn giấu trong tranh, phải quan sát kỹ(kết hợp tưởng tượng) mới nhận biết được, từ đó nhằm gây hứng thú học tập cho các em.

          Khi dạy bài này, tôi cho học sinh quan sát kỹ bức tranh, phát hiện các vật cần tìm ẩn rất khéo trong tranh, gọi tên từng vật(mỗi tên gọi đó là một từ mà học sinh được mở rộng được củng cố trong trò chơi này). Sau đó tôi yêu cầu các em nói rõ công cụ(được làm gì) của từng vật tìmđược. Yêu cầu này có tác dụng khắc sâu, củng cố cho học sinh về “nghĩa biểu vật” của các từ vừa tìm được, làm cho kết quả mở rọng vốn từ mà học sinh thu được thêm vững chắc hơn.

2) Kiểu bài tập: “Mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa”.

2a) Dạng bài tập “Tìm từ ngữ cùng chủ đề”.

          Ví dụ: Tìm các từ chỉ đồ dùng học tập(m: bút); chỉ hoạt động của học sinh(M: đọc); chỉ tính nết của học sinh(M: chăm chỉ)

                                                          ( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 9)

          Dạng bài tập này ngoài tác dụng giúp học sinh mở rộng vốn từ còn có tác dụng giúp học sinh hình thành, phát triển tư duy hệ thống. Khi hướng dẫn học sinh làm bài tập này, tôi dựa vào ví dụ mẫu trong sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh tìm từ. Các từ ngữ mẫu (còn gọi là từ điểm tựa) có tác dụng gợi ý  định hướng cho học sinh trong việc tìm từ, đồng thời giúp học sinh hiểu rõ yêu cầu của bài tập. Tôi tổ chức, hướng dẫn cho học sinh chơi trò  chơi tiếp sức. Chia bảng lớp thành 4 cột dành cho 4 tổ, cử đại diện tiếp nhau lên viết những từ đã tìm vào cột dành cho tổ, mỗi em chỉ viết 1 từ, sau đó chuyển phấn cho bạn khác cùng tổ viết tiếp trong một thời gian nhất định. Cuối cùng nhận xét, tuyên dương những tổ thắng cuộc và cho hocjsinh đọc lại những từ đã tìm( từ đúng) để khắc sâu kiến thức cho học sinh.

2b) Dạng bài tập “Tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa với một từ cho sẵn”.

          Hoạt động tìm các từ cùng nghĩa, gần nghĩa, hoặc trái nghĩa với một từ cho sẵn nào đó có tác dụng rất lớn trong việc giúp  học sinh mở rộng,phát triển vốn từ. Để học sinh có điểm tựa trong việc tìm từ. Khi dạy các dạng bài tập này, tôi thường giải thích nghĩa của các từ cho sẵn vào một số ngữ cảnh trong đó có sử dụng từ cho sẵn.

          Ví dụ: Khi dạy về từ chỉ hoạt động, trạng thái.

                   Tìm các từ chỉ hoạt động, trạng thái của loài vật,sự vật trong những câu sau:

a) Con trâu ăn cỏ.

b) Đàn bò uống nước dưới sông.

c) Mặt trời tỏa ánh nắng rực  rỡ.

                             (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 67)

      Với dạng bài tập này, tôi yêu cầu học sinh nói tên các con vật, sự vật trong mỗi câu.”Con trâu”; “Đàn bò”: từ chỉ loài vật. “Mặt trời” là từ chỉ sự vật

Hướng dẫn học sinh tìm đúng từ chỉ hoạt động(của loài vật), trạng thái(của sự vật) trong từng câu. Yêu cầu học sinh nêu sau đó tôi chốt lại kết quả đúng rồi gạch chân các từ chỉ hoạt động hay trạng thái của loài vật, sự vật trong từng câu. Từ đó yêu cầu học sinh tìm từ khác cùng nghĩa, gần nghĩa với từ “ăn” ở câu a; từ ‘tỏa’ ở câu c. Nếu học sinh chưa tìm được tôi gợi ý bằng cách giải thích nghĩa của từ “ăn’; ‘tỏa” rồi dần dần học sinh trả lời được. Từ gần nghĩa với từ “ăn” trong câu a là từ “gặm”. Từ gần nghĩa với từ “tỏa” trong câu c là từ “chiếu”; “rọi”.

3) Kiểu bài tập: “Mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ”.

          Ví dụ: Tìm các từ :

                         - có tiếng học (M: học hành)

                         - có tiếng tập (M: tập đọc)

                                              (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 17)

          Như chúng ta đã biết, dựa vào mô hình cấu tạo từ ta có thể tạo ra được rất nhiều những từ có cùng kiểu cấu tạo. Khi dạy kiểu bài tập này, tôi khai thác các ví dụ mẫu được ghi trong sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh tìm từ, tìm được càng nhiều từ càng tốt. Tổ chức trò chơi tiếp sức như kiểu bài tập 2b nêu ở trên. Điều này lưu ý học sinh có thể đưa ra một số cụm từ chứ không phải là một từ.

    Ví dụ: học bài, học việc, tập đi, tập nói,.... những trường hợp này vẫn chấp nhận được vì ở bậc Tiểu học chưa đặt vấn đề phân biệt từ với cụm từ, đồng thời các tiếng học và tập ở đây vẫn cùng nghĩa với học và tập trong các  từ học tập, học hành, luyện tập,... nhưng những ví dụ: tập sách, tập tễnh không được chấp nhận vì trong những trường hợp này “tập”mang nghĩa khác.

           Với những biện pháp trên, khi dạy Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 nói chung và dạy các kiểu bài “ Mở rộng vốn từ” cho học sinh lớp 2 nói riêng tôi có một số bài học kinh nghiệm sau:

1- Giáo viên cần nắm vững nội dung và mức độ yêu cầu của từng bài tập để hướng dẫn học sinh thực hành cho sát hợp; có nhiều biện pháp, hình thức tổ chức nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh: hướng dẫn làm mẫu, trao đổi- nhận xét, thực hành, luyện tập trên bảng lớp- bảng con, làm theo nhóm, làm cá nhân trong vở nháp hoặc vở bài tập Tiếng Việt 2,...

2- Kết hợp phát huy tác dụng của kênh hình trong SGK và sử dụng những đồ dùng dạy học đơn giản(sưu tầm hoặc tư làm) nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức và tích cực tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập về kỹ năng dùng từ, đặt câu.

3- Khi hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ theo chủ đề thông qua nhiều biện pháp như: tìm từ có cùng hình thức cấu tạo, tìm từ gần nghĩa, cungf nghĩa, trái nghĩa. Tăng cường luyện kỹ năng dùng từ trong nói - viết(tấp đặt câu, sửa lỗi dùng từ...). tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực trong tất cả các môn học qua tổ chức các trò chơi học tập.

4 - Thường xuyên kiểm tra, chấm bài, chữa bài tỉ mỉ, chính xác, tuyên dương kịp thời những học sinh học tập tốt, có cố gắng. Đặc biệt cần kết hợp hài hòa giữa ba môi trường giáo dục: nhà trường - gia đình - xã hội.

           Trên đây là một số kinh nghiệm  mà bản thân tôi đã áp dụng để hướng đãn học sinh làm bài tập “Mở rộng vốn từ” trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 trong thời gian qua. Tôi nhận thấy học sinh của tôi có tiến bộ, vốn từ của các em đã phong phú hơn. Các em đã biết làm các bài tập về Mở rộng vốn từ.Vì vậy tôi viết bài này với mong muốn được trao đổi với các bạn đồng nghiệp xa gần, mong được sự góp ý chân thành của các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp để giúp tôi giảng dạy và nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu cho học sinh.

PHẠM THỊ ĐÀO

                                     ( GV Trường Tiểu học Song An - Vũ Thư -Thái Bình)

Tổng số điểm của bài viết là: 21 trong 5 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
1, 2  Trang sau
Comment addGửi bình luận của bạn

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Giới thiệu về Phòng GD&ĐT Vũ Thư

Giới thiệu về Phòng GD&ĐT Vũ Thư             Vũ Thư là vùng đất được hình thành cách đây trên dưới 2.000 năm. Đó là kết quả của quá trình bồi tụ phù sa của sông Hồng Hà và sông Trà Lý, cộng với sức khai phá của cư dân sống trên mảnh đất này.  Thời Bắc...

Đăng nhập

Liên kết website

Sở GD&ĐT Thái Bình
Giangngoc